Mở bài văn nghị luận theo cách trực tiếp. Rất rõ ràng, mở bài theo cách trực tiếp nghĩa là các em đi thẳng vào nội dung của vấn đề cần bàn luận và phân tích trong bài viết. Một ví dụ về mở bài theo cách trực tiếp: “Nếu là con chim chiếc lá. Thì chim phải hót, lá
Những Mở Bài Nghị Luận Văn Học Hay Nhất. Mlàm việc bài xích thừa dài dễ gây mất phẳng phiu cùng với bài văn, còn nếu mlàm việc bài bác vượt nthêm sẽ không còn diễn đạt được không còn ý. Một mnghỉ ngơi bài bác hay là mlàm việc bài bác nđính gọn gàng, xúc tích và
Cách 1: Nêu làm phản đề. Đây là một phương pháp mở bài xích rất hấp dẫn. Nêu phản bội đề có nghĩa là thí sinch chế tạo ra trường hợp trái chiều, tương bội nghịch, ngược với sự việc nêu ra vào đề bài bác. Cách mnghỉ ngơi bài xích này thường tạo tuyệt hảo
Cách 4: Đi từ chủ đề. Đây là một trong những cách mở bài nghị luận văn học được nhiều học sinh áp dụng. Mỗi tác phẩm văn học đều thuộc một chủ đề nào đó, nếu đề tài hiện thực cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm thì viết về đề tài đó nhà văn
Khám phá các video ngắn liên quan đến cách viết mở bài nghị luận văn học trên TikTok. Xem nội dung phổ tiến từ các tác giả sau đây: Vào 10 không khó(@onthivao10), HocvancungTom98(@hocvancungtom98), HOCMAI THCS(@hocmai_thcs), Kiến Guru THCS - THPT(@kienguru_thcs_thpt), Cô giáo Diệu Thu - Ngữ văn(@cogiaodieuthu) .
Cách vận dụng những câu lí luận văn học dùng làm văn nghị luận; Mở bài văn nghị luận theo lối đối lập . Mở bài theo lối đối lập tức là các em nêu một vấn đề đối lập, từ đó làm thế bắc cầu để nêu lên vấn đề mà mình cần phân tích.
Cách viết Mở bài hay cho phần Nghị luận Văn học Một khó khăn khiến học sinh hay bị mất điểm trong các bài thi nghị luận văn học đó là không biết cách viết mở bài. Colearn chia sẻ cách viết … Trên đây là cách viết mở bài hay cho phần nghị luận văn học. Hi vọng rằng
5 cách mở bài văn nghị luận ấn tượng lấy lòng ban giám khảo. 14 Tháng 05, 2019Mở bài quá dài dễ gây mất cân đối với bài văn, còn nếu mở bài quá ngắn sẽ không diễn đạt được hết ý. Một mở bài hay là mở bài ngắn gọn, súc tích, nêu rõ được nội dung yếu tố và
Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd. Trong văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng, mở bài chiếm dung lượng không nhiều nhưng lại rất quan trọng. Mở bài nghị luận văn học tốt tạo ấn tượng cho người đọc. Mở bài giúp người đọc biết thân bài sẽ viết gì giới thiệu vấn đề nghị luận… Nhưng với nhiều học sinh, viết mở bài là cả một vấn đề lớn, rất khó viết. Sau đây Blog Ngữ văn gửi đến bạn đọc một số cách mở bài nghị luận văn học cơ bản Mở bài dựa vào thông tin tác giả, tác phẩm; mở bài dựa vào đề tài, chủ đề; mở bài bằng bằng lí luận văn học, trích dẫn câu THÊMTóm tắt tác giả, tác phẩm trong ngữ văn lớp 9Cách viết mở bài nghị luận văn học đơn giản I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA MỞ BÀI 1. Mục đích Giới thiệu vấn đề nghị luận luận đề, trả lời câu hỏi Phần thân bài bàn về vấn đề gì? 2. Yêu cầu - Hình thức Mở bài là một đoạn văn khoảng 4, 5 câu. - Nội dung + Dẫn dắt vào vấn đề ngắn gọn, gần gũi và có liên quan đến vấn đề chính mà bài văn sẽ đề cập tới. + Giới thiệu vấn đề cần bàn luận. Vấn đề có thể được thể hiện rõ trong đề bài, có thể là một nhận định dẫn nhận định vào mở bài. + Xác định được phạm vi nghị luậnII. MỘT SỐ CÁCH MỞ BÀI Văn nghị luận văn học có nhiều cách mở bài, có thể dựa vào thông tin tác giả, tác phẩm; đề tài, chủ đề; nêu phản đề; lí luận văn học; trích dẫn câu nói; so sánh; giai đoạn văn học, nhân vật hoặc hình tượng… Sau đây là một số cách cụ thể 1. Đi từ thông tin tác giả, tác phẩm Yêu cầu Học sinh buộc phải nhớ một số thông tin về tác giả vai trò, phong cách, đề tài, sở trường, tác phẩm năm hoặc hoàn cảnh sáng tác. Trình tự viết Vai trò của tác giả/ phong cách sáng tác đề tài sáng tác/ giới thiệu về tác phẩm/ giới thiệu vấn đề nghị luận/ Có thể trích dẫn đoạn trích cần nghị luận Ví dụ 1 Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. Chính Hữu là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp 1. Thơ ông chủ yếu viết về người lính và chiến tranh với lời thơ đặc sắc, cảm xúc dồn nén 2. Ra đời năm 1948, Đồng chí là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Chính Hữu 3. Bài thơ ngợi ca tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, gắn bó thời kì đầu cuộc kháng chiến 4. Câu 1 vị trí của tác giả, câu 2 giới thiệu đề tài và phong cách, câu 3 giới thiệu tác phẩm và năm sáng tác, câu 4 giới thiệu vấn đề nghị luận. Ví dụ 2 Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ 1. Truyện của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình 2. Ra đời năm 1966, trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra quyết liệt, “Chiếc lược ngà” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng 3. Truyện ngợi ca tình cha con, tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng – cũng là tình người trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh 4. Cũng như bé Thu, nhân vật ông Sáu trong truyện đã để lại cho người đọc rất nhiều ấn tượng 5. 2. Đi từ đề tài, chủ đề Yêu cầu HS biết được đề tài của một số tác phẩm, tên tác giả - tác phẩm của đề tài đó. Trình tự viết Giới thiệu đề tài/ liệt kê một số tác phẩm và tác giả cùng đề tài/ khẳng định bài thơ truyện sẽ nghị luận cũng thuộc đề tài đó/ giới thiệu vấn đề nghị luận/ Có thể trích dẫn đoạn trích cần nghị luận. Ví dụ 1 Đề yêu cầu phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải. Mùa xuân là đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam.1 Chúng ta đã được biết đến Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính, Mùa xuân xanh của Hàn Mạc Tử, Một khúc ca xuân của Tố Hữu…2 Và nhà thơ Thanh Hải cũng đã đóng góp vào đề tài ấy bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.3 Bài thơ là những cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và khát vọng cống hiến cho cuộc đời.4 Câu 1 giới thiệu đề tài, câu 2 liệt kê một số tác phẩm cùng đề tài, câu 3 khẳng định “Mùa xuân nho nhỏ” cũng thuộc đề tài mùa xuân, câu 4 giới thiệu vấn đề nghị luận. Ví dụ 2 Nếu đề yêu cầu nghị luận khổ thơ bốn và năm thì có thể viết Mùa xuân là đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. 1 Chúng ta đã được biết đến Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính, Mùa xuân xanh của Hàn Mạc Tử, Một khúc ca xuân của Tố Hữu…2 Và nhà thơ Thanh Hải cũng đã đóng góp vào đề tài ấy bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.3 Nếu như ba khổ thơ đầu là những cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước thì khổ thơ bốn và năm lại thể hiện ước muốn hoà nhập và khát vọng cống hiến cho cuộc đời của Thanh Hải4 “Ta làm con chim hót … Dù là khi tóc bạc” Ví dụ 3 Cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong đoạn trích sau Bây giờ là buổi trưa. Im ẳng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thường cử thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đen tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình. Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm ton, tôi là một cô gái khả. Hai bím tóc dày, tương đoi mềm, một cải cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo “Cỏ có cải nhìn sao mà xa xăm! Xa đen đâu mặc kệ, nhưng tôi thích ngắm mắt tôi trong gương. Nó dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói nang. Không hiểu sao các anh pháo thủ và lái xe lại hay hỏi thăm tôi. Hòi thăm hoặc viết những thư dài gửi đường dây, làm như ở cách nhau hàng nghìn cây so, mặc dù có thể chào nhau hàng ngày. Tôi không săn sóc, vồn vã. Khi bọn bạn gái tôi xúm nhau lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy, tôi thường đứng ra xa, khoanh hai tay trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt. Nhưng chẳng qua tỏi điệu thể thôi. Thực tình trong suy nghĩ của tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ. Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi, Ngữ văn 9 tập 2, NXBGD Người lính và chiến tranh là đề tài quen thuộc của văn học cách mạng Việt Nam.1 Đó là Đồng chí của Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng…2 Ra đời năm 1971, thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt, Những ngôi sao xa xôi của nhà văn Lê Minh Khuê đã góp phần làm cho đề tài càng phong phú hơn.3 Truyện ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất đáng quý của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa.4 Đặc biệt, đoạn trích “Bây giờ là buổi trưa… có ngôi sao trên mũ” thể hiện cụ thể nét đẹp của Phương Định trẻ trung, xinh đẹp, yêu đời và có những suy nghĩ rất đáng trân trọng.5 Câu 1 giới thiệu đề tài, câu 2 liệt kê một số tác phẩm cùng đề tài, câu 3 khẳng định “Những ngôi sao xa xôi” cũng thuộc đề tài người lính và chiến tranh, câu 4 giới thiệu nội dung khái quát của tác phẩm, câu 5 giới thiệu vấn đề nghị luận của đoạn trích. Đề tài một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 9 và ngoài chương trình - Người lính Đồng chí Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật, Ánh trăng Nguyễn Duy, Những ngôi sao xa xôi Lê Minh Khuê; - Chiến tranh Chiếc lược ngà Nguyễn Quang Sáng, Những ngôi sao xa xôi Lê Minh Khuê, Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật; - Người lao động Lặng lẽ Sa Pa Nguyễn Thành Long, Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận, Núi đôi Vũ Cao; - Người nông dân Làng Kim Lân, Lão Hạc Nam Cao, Tắt đèn Ngô Tất Tố - Bác Hồ Viếng lăng Bác Viễn Phương, Đêm nay bác không ngũ Minh Huệ, Bác ơi Tố Hữu; - Mùa xuân Mùa xuân nho nhỏ Thanh Hải, Nguyên tiêu Hồ Chí Minh, Thơ tình mùa xuân Xuân Diệu; - Gia đình Nói với con Y Phương, Con cò Chế Lan Viên, Bếp lửa Bằng Việt; - Mùa thu Sang thu Hữu Thỉnh, Đây mùa thu tới Xuân Diệu, Tiếng thu Lưu Trọng Lư. Lưu ý Mỗi đề tài phải biết được 3 – 4 tác phẩm phổ biến nhất. 3. Đi từ lí luận văn học – trích dẫn câu nói. Yêu cầu HS phải biết một số nhận định văn học – câu nói có liên quan đến vấn đề nghị luận. Trình tự viết Trích dẫn nhận định câu nói/ khái quát ý nghĩa của nhận định câu nói/ giới thiệu tác phẩm, tác giả/ giới thiệu vấn đề nghị luận/ có thể trích dẫn đoạn trích cần nghị luận. Ví dụ 1 Nghị luận nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân. Thạch Lam từng viết “Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật để người đọc trông nhìn và thưởng thức.” 1. Hay nói cách khác, sứ mệnh của nhà văn là đi tìm và phát hiện cái đẹp khuất lấp ở những nơi tưởng chừng như không thể tồn tại cái đẹp để giúp người đọc có cách nhìn nhận, đánh giá cuộc sống, cong người và thưởng thức tác phẩm một cách đúng đắn và có ý nghĩa nhất 2. Kim Lân là một nhà văn như thế, ông đã rất thành công khi tìm ra vẻ đẹp của người nông dân trong bối cảnh tuyệt vọng, bế tắc 3. Điều đó thể hiện rõ nét qua nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng 4. Ví dụ 2 Viết về nhân vật ông Hai Làng – Kim Lân Ra-xum Gam-za-tốp từng nói “Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người” 1. Con người có thể rời xa quê hương nhưng tình yêu quê hương luôn tồn tại trong mỗi con người 2. Điều này càng được thể hiện rõ trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân qua nhân vật ông Hai 3. Một người nông dân mộc mạc, hiền lành mà giàu tình yêu với quê hương, với đất nước, với cách mạng 4. Câu 1 trích dẫn nhận định câu nói, câu 2 khái quát ý nghĩa của nhận định câu nói, câu 3 giới thiệu tác phẩm – tác giả, câu 4 giới thiệu vấn đề nghị luận. Lưu ý ý thứ ba và ý thứ tư có thể đổi vị trí cho nhau. Trên đây là một số cách viết mở bài nghị luận văn học đơn giản. Rất mong sẽ góp phần giúp cho bài văn của các em sẽ tốt hơn.
Trong một bài văn, phần mở bài trong một bài văn nghị luận xã hội có vai trò gợi mở, định hướng vấn đề. Chúng ta có thể mở bài theo hai cách trực tiếp và gián tiếp. Để giúp học sinh có thêm ý tưởng cho phần mở bài, sẽ cung cấp tài liệu Cách mở bài nghị luận văn học, hướng dẫn cách viết phần mở bài nghị luận văn học. Cách mở bài nghị luận văn học Tài liệu này sẽ hướng dẫn cách mở bài cho bài văn nghị luận văn học, cùng với một số công thức mở bài nghị luận văn học. Mời tham khảo chi tiết ngay sau đây. I. Hướng dẫn cách mở bài nghị luận văn học – Phần mở bài trong một bài văn nghị luận xã hội có vai trò gợi mở, định hướng vấn đề. Có hai cách mở bài Trực tiếp Đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Khi mở bài trực tiếp cần phải tập trung vào vấn đề nghị luận, tránh lan man. Gián tiếp Từ vấn đề liên quan dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận. Khi mở bài gián tiếp cần phải tạo được sự hấp dẫn, linh hoạt. Có thể mở bài gián tiếp bằng cách dẫn dắt từ một câu nói, ý kiến, nhận định để đi đến vấn đề cần nghị luận. – Cấu trúc của một mở bài sẽ gồm các phần Dẫn dắt vấn đề Đi từ vấn đề liên quan một câu nói, ý kiến, nhận định… để dẫn người đọc, người nghe vào vấn đề bàn luận hay tình huống có vấn đề đặt ra ở đề bài. Nêu vấn đề Nêu vấn đề một cách ngắn gọn, chú ý nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài và phải nêu một cách khái quát. Giới hạn vấn đề Nêu được phạm vi bàn luận 1 đề tài, 1 tác phẩm hay nhiều tác phẩm, 1 đoạn/khổ trong tác phẩm… Nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa của vấn đề đối với cuộc sống, xã hội không nhất thiết phải có, tùy thuộc vào từng nội dung. II. Làm thế nào để có một một mở bài hay? Để có một bài hay, người viết cần tuân thủ các yêu cầu sau a. Ngắn gọn khoảng Three đến Four câu văn Mở bài cần ngắn gọn, tránh dài dòng, lan man dễ gây lạc đề. b. Đầy đủ Nêu được vấn đề cần nghị luận; phạm vi tư liệu, thao tác nghị luận chính. c. Độc đáo Tạo ra sự chú ý cho người đọc về vấn đề cần nghị luận bằng những liên tưởng khác lạ, hoặc dẫn dắt những câu trích dẫn ý nghĩa. d. Tự nhiên Ngôn từ giản dị, mộc mạc, tránh sáo rỗng, tránh gượng ép. III. Các cách mở bài nghị luận văn học 1. Nêu phản đề – Tạo ra tình huống đối lập, tương phản với vấn đề được nêu ra trong mở bài. – Ví dụ Khi nhận xét về Tây Tiến của Quang Dũng, có nhà phê bình văn học đã đánh giá tác phẩm mang cái “buồn rớt, mộng rớt” của giai cấp tiểu tư sản. Điều đó còn mang cái nhìn chủ quan, phiến diện một thời. Ở khổ thơ thứ ba, Quang Dũng đã cho người đọc cảm nhận được về hình ảnh người lính hiện lên với vẻ đẹp bi tráng, hào hùng. 2. So sánh – Đối chiếu hai hay nhiều đối tượng với nhau, giúp cho người đọc thấy được bản chất của vấn đề được đề cập đến trong tương quan với đối tượng khác. – Ví dụ Thơ ca Việt Nam ba mươi năm chiến tranh là một dàn hợp xướng những khúc ca, giai điệu ngọt ngào về đất nước. Ta không thể nào quên một “đất nước hình tia chớp” trong thơ Trần Mạnh Hảo hay một đất nước như “bà mẹ sớm chiều gánh nặng nhẫn nại nuôi con một đời im lặng” trong thơ Tố Hữu. Nhắc đến đề tài Đất nước trong văn học cách mạng sẽ thật là không đầy đủ nếu như ta không nhắc đến Đất nước trích trong chương V của Trường ca mặt đường khát vọng với tư tưởng nhân văn tiến bộ “Đất nước của nhân dân”. 3. Từ đề tài – Mỗi tác phẩm văn học đều thuộc một mảng đề tài nhất định. Việc dẫn dắt từ đề tài sẽ giúp cho người đọc có cái nhìn khái quát đến cụ thể về tác phẩm. – Đề tài là phạm vị hiện thực được phản ánh trong tác phẩm Ví dụ Truyện ngắn Lão Hạc, Chí Phèo của Nam Cao thuộc mảng đề tài viết về người nông dân. – Ví dụ Từ trước đến nay, tình yêu luôn là thứ không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người. Xuân Diệu đã từng viết “Làm sao sống được mà ko yêu Không nhớ không thương một kẻ nào” Bài thơ tuổi nhỏ, Xuân Diệu Đó cũng là lý do tình yêu được đưa rất nhiều vào trong thơ ca và nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng bất tận với nhiều thi nhân. Nổi bật trong đó là Xuân Quỳnh với bài thơ “Sóng”. Tác phẩm đã gợi cho người đọc những cảm nhận thật tinh tế về vẻ đẹp tâm hồn của người con gái trong tình yêu. 4. Từ chủ đề – Chủ đề là nội dung chính được tác giả gửi gắm trong tác phẩm. – Ví dụ Nguyễn Trung Thành với tác phẩm Rừng xà nu đã thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh để đặt ra một vấn đề lớn lao của dân tộc. Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi trường tồn, không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù. Tác phẩm chính là bản anh hùng ca của mảnh đất Tây Nguyên anh hùng. 5. Từ nhân vật hoặc hình tượng trung tâm – Hình tượng trung tâm có thể là nhân vật chính, hay một hình tượng được nhà văn xây dựng. – Ví dụ “Tây Tiến” là một đơn vị quân đội được thành lập vào năm 1947 với nhiệm vụ chính là phối hợp với bộ đội Lào chống lại thực dân Pháp. Đa phần những người lính trong binh đoàn Tây Tiến đều là học sinh sinh viên, trong đó có nhà thơ Quang Dũng. Năm 1948, sau khi chuyển sang đơn vị khác, nhà thơ đã nhớ về binh đoàn Tây Tiến và sáng tác ra “Tây Tiến”. Bài thơ đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. 6. Từ giai đoạn văn học hoặc hoàn cảnh sáng tác – Mỗi thời kì lịch sử đều có bối cảnh xã hội, lịch sử khác nhau có ảnh hưởng đến nội dung của từng tác phẩm. Mỗi giai đoạn chi phối đến nhà văn, bạn đọc và tác phẩm. – Đồng thời, mỗi tác phẩm văn học thường sẽ có hoàn cảnh sáng tác riêng. – Ví dụ Hôm nay sáng mồng hai tháng chín Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình Muôn triệu tim chờ… chim cũng nín Bỗng vang lên tiếng hát ân tình” Theo chân Bác, Tố Hữu Đó là sáng mùa thu lịch sử Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Văn chính luận của Người nói chung, “Tuyên ngôn độc lập” của Người nói riêng thể hiện một tư duy sắc sảo, một ngòi bút giàu tính luận chiến và tài nghệ lập luận kiệt xuất của Hồ Chí Minh. 7. Từ tác giả – Tác giả có vai trò quan trọng đối với mỗi tác phẩm – những đứa con tinh thần của nhà văn. Muốn mở bài đi từ tác giả cần nhớ được phong cách sáng tác của tác giả. – Ví dụ Nhà văn Nguyên Ngọc đã đánh giá “Nguyễn Minh Châu là cây bút mở đường tinh anh và tài năng nhất”. Các sáng tác của ông đều thể hiện được những quan niệm mới mẻ về cuộc sống. Trong số đó có truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được in trong tập truyện ngắn cùng tên, xuất bản năm 1987. Truyện đã mang một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người một cái nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. 8. Từ thể loại – Mỗi tác phẩm đều thuộc một thể loại văn học thơ, truyện ngắn… với những đặc trưng khác nhau. Học sinh cần nắm rõ nội dung của tác phẩm thuộc thơ, đọc tác phẩm để nắm rõ thể loại. – Ví dụ “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài bút kí đặc sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bằng những tình cảm chân thành, sâu nặng với xứ Huế, tác giả đã lột tả trọn vẹn vẻ đẹp và linh hồn của dòng sông Hương – con sông mang dáng hình và dấu ấn của xứ Huế mộng mơ. Tác phẩm đã thể hiện được phong cách của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. 9. Trích dẫn một nhận định, đánh giá văn học – Trích dẫn một nhận định, đánh giá văn học, từ đó dẫn dắt đến nội dung vấn đề cần nghị luận. – Ví dụ đã từng khẳng định “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Chỉ một chi tiết nhỏ nhưng lại gửi gắm được nhiều giá trị sâu sắc. Và trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi đã xây dựng được một chi tiết như vậy, đó chính là chi tiết Việt và Chiến cùng khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm. IV. Một số công thức mở bài nghị luận văn học Công thức số 1 Thời gian là một một vòng tuần hoàn vô tận. Vạn vật dường như không thể bất biến với thời gian. Nhưng những gì là văn, thơ thì vẫn luôn còn nguyên vẹn giá trị. Tác phẩm B của nhà văn/nhà thơ A là một trong số đó. Công thức số 2 Đề tài C vốn rất phổ biến trong nền văn học Việt Nam. Nổi bật trong đó là nhà văn/nhà thơ A, với tác phẩm B. Tác phẩm đã gợi cho người đọc những ấn tượng sâu sắc về vấn đề cần nghị luận. Công thức số 3 Văn học chính là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Một tác phẩm văn học lưu giữ những dấu ấn của thời đại. Tất cả những giá trị vĩnh cửu đó đã thăng hoa cùng ngòi bút của nhà văn/nhà thơ A để tác phẩm B ra đời. Nổi bật trong đó là đoạn trích/nhân vật… Công thức số 4 Hiện thực chắp cánh để văn học thăng hoa. Mỗi tác phẩm xuất phát từ hiện thực đều gửi gắm tư tưởng nhân văn cao đẹp. Chính vì vậy, bức tranh hiện thực trong tác phẩm B của nhà văn/nhà thơ A đã gây ấn tượng đặc biệt sâu sắc trong lòng bạn đọc. Công thức số 5 Một tác phẩm hay gửi gắm nhiều giá trị sâu sắc. Và tác phẩm B của nhà văn A chính là một trong số đó. Tác phẩm đã giúp người đọc hiểu rõ hơn về vấn đề nghị luận. Công thức số 6 Để xây dựng được một tác phẩm hay có sức lay động đến sâu thẳm trái tim con người là điều vô cùng khó khăn. Thế nhưng, nhà văn/nhà thơ A đã làm được điều đó qua tác phẩm B, với dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc. Công thức số 7 Tác phẩm B của nhà văn/nhà thơ A được coi là một trong những kiệt tác của nền văn học giai đoạn C. Yếu tố quan trọng để góp phần làm nên tác phẩm này chính là việc nhà văn/nhà thơ A đã xây dựng thành công vấn đề cần nghị luận. Công thức số 8 Nhà văn A là một cây bút chuyên về thể loại văn học. Tác giả đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài C. Một trong những tác phẩm tiêu biểu là tác phẩm B. Tác phẩm khắc họa/xây dựng thành công vấn đề nghị luận. Công thức số 9 đã khẳng định rằng “Văn học là nhân học”. Một tác phẩm văn chương giàu giá trị phải gửi gắm được những tư tưởng nhân văn sâu sắc. Và tác phẩm B của nhà văn A cũng vậy. Công thức số 10 An-đéc-xen, một nhà văn người Đan Mạch đã từng khẳng định rằng “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc sống viết ra”. Quả vậy, hiện thực cuộc sống được coi là cái nền cho những cảm hứng nghệ thuật chắp cánh và đâm chồi. Vì vậy, bức tranh hiện thực về cuộc sống; con người trong tác phẩm B của nhà văn/nhà thơ A đã gây ấn tượng đặc biệt sâu đậm trong lòng người đọc. Công thức số 11 Nhà văn Thạch Lam đã từng khẳng định rằng “Công việc của nhà văn là phát hiện cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho người đọc bài học trông nhìn và thưởng thức”. Và nhà văn/nhà thơ A đã làm được điều đó qua tác phẩm B. Công thức số 12 Đại thi hào Nga – Puskin từng viết “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút”. Chính nhà thơ/ nhà văn A đã để tiếng lòng của mình được cất lên qua tác phẩm B. Khi đọc tác phẩm này, chúng ta đã cảm thấy ấn tượng với… vấn đề cần nghị luận.
cách mở bài nghị luận văn học